Những thành tựu nổi bật
  • 27/05/2014

    Các hình thức Sở Tài chính tỉnh Lào Cai đã được khen thưởng:

  • 23/08/2010

    Sở Tài chính Lào Cai đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

    Sáng nay (20/8), sở Tài chính Lào Cai đã tổ chức kỷ niệm 65 năm ngày thành lập ngành Tài chính Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2010) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.

  • 30/06/2010

    Những thành tựu nổi bật

    Sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai trong những năm qua có sự đóng góp đáng kể của Ngành Tài chính nói chung, của Sở Tài chính nói riêng, thể hiện trên một số thành tựu: thu ngân sách tăng trưởng với tốc độ khá cao, đặc biệt là thu từ kinh tế địa phương, công tác quản lý thu - chi ngân sách ngày càng được củng cố và tăng cường, từng bước thực hiện đúng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Cụ thể: 1. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng trưởng với tỷ lệ cao, số thu ngân sách năm 2005 gấp 2,4 lần so với năm 2001 và gấp 3 lần so với năm 2000, tốc độ tăng thu bình quân hàng năm đạt 25,5%, cụ thể: - Năm 2000: 197.399 triệu đồng; - Năm 2001: 249.206 triệu đồng, bằng 126,2% so với năm 2000; - Năm 2002: 339.868 triệu đồng, bằng 136,4% so với năm 2001; - Năm 2003: 475.517 triệu đồng, bằng 139,9% so với năm 2002; - Năm 2004: 565.753 triệu đồng, bằng 119,0% so với năm 2003; - Năm 2005: 600.000 triệu đồng, bằng 106,1% so với năm 2004. 2. Cơ cấu thu ngân sách đã từng bước vững chắc, ổn định hơn. Thu từ nội địa tăng trưởng với tốc độ cao, tỷ trọng so với tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ngày càng tăng lên. Số thu từ nội địa năm 2005 gấp 4,3 lần so với năm 2001 và gấp 4,6 lần so với năm 2000, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 35,8%. Cụ thể: - Năm 2000: 73.103 triệu đồng; - Năm 2001: 77.846 triệu đồng, bằng 106,5% so với năm 2000 và chiếm tỷ trọng 34,6% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2002: 98.428 triệu đồng, bằng 126,4% so với năm 2001 và chiếm tỷ trọng 31,5% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2003: 210.815 triệu đồng, bằng 214,2% so với năm 2002 và chiếm tỷ trọng 47,5% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2004: 307.200 triệu đồng, bằng 145,7% so với năm 2003 và chiếm tỷ trọng 57,6% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2005: 337.000 triệu đồng, bằng 109,7% so với năm 2004 và chiếm tỷ trọng 59,4% so với tổng thu cân đối NSNN. Trong khi đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm dần về tỷ trọng so với tổng thu cân đối ngân sách nhà nước, cụ thể: - Năm 2001: 147.020 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 65,4% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2002: 213.783 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 68,5% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2003: 233.077 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 52,5% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2004: 225.697 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 42,4% so với tổng thu cân đối NSNN; - Năm 2005: 230.000 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 40,6% so với tổng thu cân đối NSNN. 3. Các khoản thu từ thuế, phí và thu khác từ kinh tế địa phương tăng trưởng mạnh mẽ. Thu thuế, phí và thu khác từ nội địa năm 2005 gấp 2,5 lần so với năm 2001 và gấp 2,6 lần so với năm 2000, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 21,4%. Cụ thể: - Năm 2000: 70.999 triệu đồng; - Năm 2001: 74.558 triệu đồng, bằng 105% so với năm 2000; - Năm 2002: 83.706 triệu đồng, bằng 112,3% so với năm 2001; - Năm 2003: 127.489 triệu đồng, bằng 152,3% so với năm 2002; - Năm 2004: 167.529 triệu đồng, bằng 131,4% so với năm 2003; - Năm 2005: 187.000 triệu đồng, bằng 111,6% so với năm 2004. 4. Việc huy động nội lực cho đầu tư phát triển đã đạt được thành tựu đáng phấn khởi: thu tiền sử dụng đất tăng trưởng với tốc độ cao và đều khắp trên địa bàn các huyện, thị xã. Số thu tiền sử dụng đất năm 2005 gấp 46 lần so với năm 2001 và gấp 71 lần so với năm 2000. Cụ thể: - Năm 2000: 2.104 triệu đồng; - Năm 2001: 3.288 triệu đồng, bằng 156,3% so với năm 2000; - Năm 2002: 14.722 triệu đồng, bằng 447,7% so với năm 2001; - Năm 2003: 83.326 triệu đồng, bằng 566% so với năm 2002; - Năm 2004: 139.671 triệu đồng, bằng 167,6% so với năm 2003; - Năm 2005: 150.000 triệu đồng, bằng 107,4% so với năm 2004. 5. Việc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, nuôi dưỡng và khai thác nguồn thu ở khu vực kinh tế cửa khẩu:  Trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2004 đã huy động được 622.470 triệu đồng để đầu tư xây dựng khu kinh tế cửa khẩu và các vùng có liên quan. 6. Công tác quản lý chi ngân sách liên tục được đổi mới và tăng cường theo hướng đơn giản hoá quy trình, tăng hiệu quả, đẩy mạnh tiết kiệm, chống lãng phí. Chi ngân sách hàng năm đều tăng trưởng với tốc độ cao, chi ngân sách năm 2005 đạt 1.996.980 triệu đồng, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2001 và gấp 3,3 lần so với năm 2000. Chi ngân sách đã đảm bảo phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong chi ngân sách đã tập trung cho xoá đói, giảm nghèo; phát triển vùng cao, vùng kinh tế trọng điểm; ưu tiên cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá... Cụ thể: - Chi đầu tư xây dựng cơ bản (không kể chi đầu tư từ nguồn vay và các chương trình mục tiêu) năm 2005 gấp 1,4 lần so với năm 2001 và gấp 1,9 lần so với năm 2000. - Chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo năm 2005 gấp 2 lần so với năm 2001 và gấp 2,2 lần so với năm 2000. Tỷ trọng chi cho sự nghiệp giáo dục trong tổng chi thường xuyên NSĐP cũng được nâng lên đáng kể: năm 2000, chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo chiếm tỷ trọng 34,4%, năm 2005 chiếm tỷ trọng 36,1%. - Chi sự nghiệp khoa học và công nghệ hàng năm đều chiếm tỷ trọng trên 1% so với tổng chi thường xuyên của NSĐP. - Chi sự nghiệp văn hoá hàng năm đều chiếm tỷ trọng trên 2% so với tổng chi thường xuyên của NSĐP. 7. Tham mưu với UBND tỉnh có sự cải cách đổi mới tích cực trong công tác quản lý ngân sách; triển khai thực hiện tốt Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) trên địa bàn. Những đổi mới trong công tác quản lý ngân sách đã phát huy hiệu quả tích cực, biểu hiện: - Đã tăng cường phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách cho cấp huyện và cấp xã đặc biệt là các khoản thu từ đất đai, phí, lệ phí và các khoản thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh; các khoản chi từ nguồn thu tiền sử dụng đất nên đã khuyến khích các địa phương huy động, quản lý, sử dụng tốt hơn nguồn lực tài chính để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương. - Vai trò giám sát của HĐND các cấp đã được thể hiện rõ hơn, thực tế và khép kín hơn. HĐND các cấp đã tham gia đầy đủ vào các quá trình ngân sách. - Việc thực hiện công khai tài chính - ngân sách của các cấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách đã đảm bảo công bằng, phát huy dân chủ và công khai minh bạch trong lập, quyết định, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách. - Công tác quản lý thu ngân sách được thực hiện theo quy trình thu rõ ràng, minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện nghĩa vụ của mình với ngân sách nhà nước. - Việc chuyển hình thức chi ngân sách sang phương thức các đơn vị sử dụng ngân sách chủ động chi tiêu theo chế độ, khối lượng và kết quả thực hiện công việc đã góp phần cải cách, giảm bớt thủ tục hành chính, đồng thời tăng quyền hạn và trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong quá trình quản lý, sử dụng ngân sách; nâng cao vai trò của KBNN trong kiểm soát chi ngân sách. Việc cải cách quy trình chi ngân sách cũng đã tăng cường công tác quản lý ngân sách, tăng hiệu quả đầu tư, góp phần đẩy mạnh tiết kiệm, chống tham nhũng và lãng phí cho chi tiêu ngân sách. - Chế độ thông tin báo cáo đã được cải tiến đáng kể phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và điều hành ngân sách. 8. Xây dựng và phát triển một đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính từ tỉnh đến cơ sở tương đối lớn mạnh so với 5 năm trước: - Đến nay trên 90% cán bộ của Sở Tài chính và trên 70% cán bộ của Phòng Tài chính - Kế hoạch có trình độ đại học, trên 90% cán bộ tài chính xã có trình độ từ trung cấp trở lên. - Trong năm qua, Sở Tài chính đã tổ chức tập huấn công tác quản lý ngân sách cho chủ tịch và cán bộ làm công tác quản lý tài chính của 164/164 xã, phường, thị trấn. Đến nay, 100% số xã, phường, thị trấn cơ bản đã thực hiện quản lý ngân sách theo đúng quy định của Luật NSNN. - Đã ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính - ngân sách: công tác quản lý ngân sách tại Sở Tài chính và Phòng Tài chính - Kế hoạch các huyện, thành phố đã được thực hiện trên hệ thống mạng máy tính của Sở theo phần mềm dùng chung do Bộ Tài chính cung cấp; Sở Tài chính đã triển khai thí điểm việc quản lý ngân sách trên máy tính cho 55/164 xã, phường, thị trấn. 9. Tham mưu với UBND tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo tỉnh. Hàng năm, ngân sách địa phương đã bố trí cho việc thực hiện các cơ chế, chính sách của địa phương trên 20 tỷ đồng.






Thống kê truy cập
  • Đang online: 62
  • Hôm nay: 408
  • Trong tuần: 2,728
  • Tất cả: 76,375
Đăng nhập